Bài viết cung cấp thông tin về các trường hợp không được làm thêm giờ vào Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11, tiền lương khi làm việc ngày này theo Bộ luật Lao động 2019. Hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu thêm nhé!

Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11: Tổng hợp các trường hợp không được làm việc vào ngày này là những trường hợp nào?
Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 28/2026/QH16 có nêu rõ về việc Ngày 24/11 hằng năm được chọn là ngày Văn hóa Việt Nam. Trong ngày này, người lao động được nghỉ làm hưởng nguyên lương theo đúng quy định pháp luật.
Theo đó, đi làm việc vào ngày 24/11 là hoạt động làm thêm giờ được quy định tại Điều 107 Bộ luật Lao động 2019. Điều này quy định rằng, việc sử dụng người lao động đi làm vào ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 phải được sự đồng ý của người lao động và đảm bảo thời giờ làm việc trong khoảng được pháp luật cho phép.
Tuy nhiên, quy định tại Bộ luật Lao động 2019 có đề cập đến các trường hợp người lao động không được làm thêm giờ dù có nhận được sự đồng ý của người lao động bao gồm:
(1) Làm thêm vượt quá số giờ quy định (200 giờ/năm hoặc 300 giờ/năm nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019)
(2) Phụ nữ mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo (điểm a khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động 2019)
(3) Lao động chưa đủ 15 tuổi; lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi làm thêm giờ trong một số nghề, công việc ngoài danh mục được pháp luật cho phép (Điều 146 Bộ luật Lao động 2019).
Người lao động đi làm vào ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 được nhận lương ra sao?
Căn cứ theo quy định tại Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 có quy định về tiền lương làm ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 như sau:
Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm
- Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
- a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
- b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
- c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
- Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
- Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.
- Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Theo đó, người lao động làm việc ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 có thể nhận được ít nhất 400% tiền lương một ngày làm việc so với những ngày làm việc thông thường do được trả lương làm công một ngày và trả lương làm thêm giờ vào ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 300% mức lương một ngày theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều này.
Ngoài ra, nếu người lao động làm thêm ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 vào ban đêm ngoài việc nhận 400% tiền lương làm thêm ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 còn được nhận thêm 30% đơn giá làm việc bình thường hằng ngày cộng với 20% tiền lương làm thêm ngày Văn hóa Việt Nam 24/11. Tổng tiền lương làm thêm ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 vào ban đêm có thể lên đến 490% tiền lương theo quy định này.
*Lưu ý: mức tiền lương làm thêm ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 nêu trên là mức tối thiểu người lao động nhận được khi làm thêm dịp này, tùy vào thỏa thuận chung của người lao động và người sử dụng lao động mà mức tiền lương này có thể cao hơn.
Mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 trong việc phát triển Văn hóa Việt Nam tại Nghị quyết 80-NQ/TW ra sao?
Tại Mục II Nghị quyết 80-NQ/TW năm 2026 có đề cập đến mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 như sau:
Mục tiêu đến năm 2030:
(1) Mục tiêu chung
Đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số. Phát triển văn học, nghệ thuật xứng tầm với lịch sử văn hoá dân tộc và tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới. Cơ bản hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo các di tích quốc gia đặc biệt; phục hồi, bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp. Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hoá; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hoá, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hoá tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hoá; xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới.
(2) Một số chỉ tiêu
– Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương 2 cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hoá đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hoá của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.
– Phấn đấu hoàn thành việc số hoá 100% các di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026.
– 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hoá.
– Bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hoá; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn.
– Ban hành cơ chế tài chính để ưu tiên thực hiện trong 3 lĩnh vực đột phá: Đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá và đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Thực hiện chủ trương xã hội hoá văn hoá đúng hướng, hiệu quả; đấu tranh khắc phục khuynh hướng “thương mại hoá”, chỉ coi trọng, đề cao một chiều lợi ích kinh tế trong hoạt động văn hoá, coi nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn.
– Phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 – 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá trong các lĩnh vực có tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,…
– Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 1 – 3 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh.
Tầm nhìn đến năm 2045:
Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hoá giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khẳng định vị thế văn hoá của quốc gia phát triển có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hoá – sáng tạo năng động, với một số chỉ tiêu chính như sau:
– Công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP.
– Có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 – 10 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh.
– Phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá.



EN