Trong quá trình sử dụng phần mềm do doanh nghiệp nước ngoài cung cấp, nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam băn khoăn liệu việc được cấp quyền sử dụng phần mềm có được xem là hoạt động chuyển giao công nghệ hay không. Đây là vấn đề cần được xác định rõ để áp dụng đúng các quy định pháp luật hiện hành. Thông qua bài viết này, cùng Pham Consult tìm hiểu về vấn đề này nhé!

 

I. Thế nào là chuyển giao công nghệ? Đối tượng công nghệ được chuyển giao là gì?

Để xác định việc cấp phép sử dụng phần mềm có phải là chuyển giao công nghệ hay không, trước hết cần hiểu khái niệm chuyển giao công nghệ và các đối tượng được phép chuyển giao theo quy định pháp luật.

Căn cứ theo khoản 7 Điều 2 Luật Chuyển giao công nghệ 2017, được sửa đổi bởi điểm b khoản 1 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 quy định chuyển giao công nghệ là hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ nhằm đưa công nghệ vào ứng dụng thực tế để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc phương thức sản xuất mới.

* Đối tượng công nghệ được chuyển giao :

Căn cứ theo khoản 1 Điều 4 Luật Chuyển giao công nghệ 2017, được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 quy định:

Quảng cáo

(1) Bí quyết kỹ thuật, bí quyết công nghệ;

(2) Phương án, quy trình công nghệ; giải pháp, thông số, thiết kế, sơ đồ kỹ thuật; mô hình, thuật toán, công thức, phần mềm, thông tin, dữ liệu;

(3) Giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ;

(4) Máy móc, thiết bị đi kèm một trong các đối tượng (1), (2) và (3).

II. Công ty nước ngoài cấp phép sử dụng phần mềm máy tính cho khách hàng tại Việt Nam có được coi là chuyển giao công nghệ không?

Mặc dù phần mềm được xác định là một trong các đối tượng công nghệ có thể được chuyển giao, không phải mọi trường hợp cấp phép sử dụng phần mềm đều mặc nhiên được xem là chuyển giao công nghệ. Việc xác định còn phụ thuộc vào hình thức và nội dung giao dịch giữa các bên.

Căn cứ Điều 5, Điều 6 Luật Chuyển giao công nghệ 2017, được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 quy định về hình thức, phương thức chuyển giao công nghệ như sau:

Hình thức chuyển giao công nghệ

  1. Chuyển giao công nghệ độc lập.
  2. Phần chuyển giao công nghệ trong trường hợp sau đây:
  3. a) Dự án đầu tư;
  4. b) Góp vốn bằng công nghệ;
  5. c) Nhượng quyền thương mại;
  6. d) Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ;

đ) Mua, bán máy móc, thiết bị quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 của Luật này.

  1. Chuyển giao công nghệ bằng hình thức khác theo quy định của pháp luật.
  2. Việc chuyển giao công nghệ quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này phải được lập thành hợp đồng; việc chuyển giao công nghệ tại các điểm a, c, d và đ khoản 2 và khoản 3 Điều này được thể hiện dưới hình thức hợp đồng hoặc điều, khoản, phụ lục của hợp đồng hoặc của hồ sơ dự án đầu tư có các nội dung quy định tại Điều 23 của Luật này.

Phương thức chuyển giao công nghệ

  1. Chuyển giao tài liệu về công nghệ, quy trình quản lý chất lượng, tiêu chuẩn, thông số kỹ thuật liên quan.
  2. Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ trong thời hạn thỏa thuận.
  3. Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ đưa công nghệ vào ứng dụng, vận hành để đạt được các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm, tiến độ theo thỏa thuận.
  4. Chuyển giao máy móc, thiết bị kèm theo công nghệ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 của Luật này kèm theo các phương thức quy định tại Điều này.
  5. Phương thức chuyển giao khác do các bên thỏa thuận.

Theo đó, công ty nước ngoài cấp phép sử dụng phần mềm máy tính cho khách hàng tại Việt Nam có thể được coi là chuyển giao công nghệ nếu việc cấp phép này tuần theo một trong những hình thức, phương thức chuyển giao công nghệ như quy định trên.

Ví dụ, bên công ty nước ngoài khi cấp phép sử dụng phần mềm có bàn giao luôn cả mã nguồn, tài liệu kỹ thuật chi tiết, đào tạo chuyên sâu các vận hành, sử dụng… cho bên khách hàng thì được xem là chuyển giao công nghệ.

 

III. Khi nào phải đăng ký chuyển giao công nghệ? Hồ sơ đăng ký cần những gì?

Sau khi xác định giao dịch thuộc trường hợp chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp cần tiếp tục xem xét nghĩa vụ đăng ký chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật.

Căn cứ theo khoản 1 Điều 31 Luật Chuyển giao công nghệ 2017, được sửa đổi bởi điểm a, c khoản 14 Điều 1 Luật Chuyển giao công nghệ sửa đổi 2025 có quy định:

Đăng ký chuyển giao công nghệ và cung cấp thông tin chuyển giao công nghệ

  1. Hợp đồng chuyển giao công nghệ và phần chuyển giao công nghệ quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này thuộc một trong những trường hợp sau đây phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, trừ công nghệ hạn chế chuyển giao đã được cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ:
  2. a) Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam;
  3. b) Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài;
  4. c) Chuyển giao công nghệ trong nước có sử dụng vốn nhà nước hoặc ngân sách nhà nước.

  1. Hồ sơ đăng ký chuyển giao công nghệ bao gồm:
  2. a) Văn bản đề nghị đăng ký chuyển giao công nghệ, trong đó ghi rõ cam kết trách nhiệm của các bên bảo đảm nội dung hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan;
  3. b) Bản gốc hoặc bản sao có chứng thực văn bản giao kết chuyển giao công nghệ thể hiện nội dung theo quy định tại Điều 23 của Luật này; trường hợp không có văn bản giao kết bằng tiếng Việt thì phải có bản dịch sang tiếng Việt và được công chứng hoặc chứng thực.

Hợp đồng chuyển giao công nghệ và phần chuyển giao công nghệ quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Chuyển giao công nghệ 2017 thuộc một trong những trường hợp sau đây phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, trừ công nghệ hạn chế chuyển giao đã được cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ:

– Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam;

– Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài;

– Chuyển giao công nghệ trong nước có sử dụng vốn nhà nước hoặc ngân sách nhà nước.

Hồ sơ đăng ký chuyển giao công nghệ bao gồm:

– Văn bản đề nghị đăng ký chuyển giao công nghệ, trong đó ghi rõ cam kết trách nhiệm của các bên bảo đảm nội dung hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan;

– Bản gốc hoặc bản sao có chứng thực văn bản giao kết chuyển giao công nghệ thể hiện nội dung theo quy định tại Điều 23 Luật Chuyển giao công nghệ 2017; trường hợp không có văn bản giao kết bằng tiếng Việt thì phải có bản dịch sang tiếng Việt và được công chứng hoặc chứng thực.

 

Tóm lại, việc công ty nước ngoài cấp phép sử dụng phần mềm cho khách hàng tại Việt Nam không phải lúc nào cũng được xem là chuyển giao công nghệ. Trường hợp việc cấp phép đi kèm các nội dung chuyển giao công nghệ như bàn giao tài liệu kỹ thuật, bí quyết công nghệ, đào tạo hoặc hỗ trợ làm chủ công nghệ thì có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chuyển giao công nghệ và phát sinh nghĩa vụ đăng ký theo quy định.

 

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

WhatsApp chat