Trong hoạt động quản lý dự án đầu tư tại Việt Nam, nghĩa vụ báo cáo định kỳ không chỉ là thước đo mức độ tuân thủ pháp luật mà còn là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước giám sát dòng vốn và tiến độ thực hiện của doanh nghiệp. Trong số đó, Báo cáo giám sát đánh giá đầu tư Quý 2 năm 2026 là một mốc hồ sơ quan trọng mà các nhà đầu tư và tổ chức kinh tế không thể lơ là khi giai đoạn nửa đầu năm tài chính khép lại. Việc không nắm vững mốc thời gian cốt lõi theo quy định hiện hành rất dễ khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng chậm nộp, từ đó phải đối mặt với các chế tài xử phạt hành chính nghiêm khắc theo quy định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư. Để giúp các doanh nghiệp chủ động rà soát lịch trình, hoàn thiện hồ sơ đúng hạn và nhận diện rõ các rủi ro pháp lý liên quan đến mức phạt tiền hay biện pháp khắc phục hậu quả, hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu thời hạn chót cũng như khung xử phạt cụ thể đối với hành vi chậm nộp loại báo cáo này.

  1. Chế độ báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam được quy định như thế nào?

Căn cứ theo Điều 47 Luật Đầu tư 2025, chế độ báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam được thực hiện như sau:

a. Đối tượng thực hiện chế độ báo cáo bao gồm:

– Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

– Cơ quan đăng ký đầu tư;

– Nhà đầu tư, tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư 2025.

b. Chế độ báo cáo định kỳ được thực hiện như sau:

– Hằng quý, hằng năm, nhà đầu tư, tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư báo cáo cơ quan đăng ký đầu tư và cơ quan thống kê trên địa bàn về tình hình thực hiện dự án đầu tư, gồm các nội dung sau: vốn đầu tư thực hiện, kết quả hoạt động đầu tư kinh doanh, thông tin về lao động, nộp ngân sách nhà nước, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, xử lý và bảo vệ môi trường, các chỉ tiêu chuyên ngành theo lĩnh vực hoạt động;

– Hằng quý, hằng năm, cơ quan đăng ký đầu tư báo cáo Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình tiếp nhận, cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tình hình hoạt động của các dự án đầu tư thuộc phạm vi quản lý;

– Hằng quý, hằng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp, báo cáo Bộ Tài chính về tình hình đầu tư trên địa bàn;

– Hằng quý, hằng năm, các Bộ, cơ quan ngang Bộ báo cáo về hoạt động đầu tư liên quan đến phạm vi quản lý của ngành và gửi Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ;

– Hằng năm, Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình đầu tư trên phạm vi cả nước và báo cáo đánh giá về tình hình thực hiện chế độ báo cáo đầu tư của các cơ quan quy định tại mục (a).

c. Cơ quan, nhà đầu tư và tổ chức kinh tế thực hiện báo cáo bằng văn bản và thông qua Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư.

d. Cơ quan, nhà đầu tư, tổ chức kinh tế quy định tại mục (a)thực hiện báo cáo đột xuất khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

e. Đối với các dự án đầu tư không thuộc diện cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư báo cáo cơ quan đăng ký đầu tư trước khi thực hiện dự án đầu tư.

2. Hạn chót nộp Báo cáo giám sát đánh giá đầu tư quý 2 năm 2026

Căn cứ theo điểm a, b, c khoản 11 Điều 94 Nghị định 19/2026/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm d khoản 6 Điều 99 Nghị định 96/2026/NĐ-CP), hạn chót nộp Báo cáo về giám sát đánh giá đầu tư quý 2 năm 2026 được quy định cụ thể cho từng đối tượng như sau:

– Đối với chủ chương trình, chủ đầu tư và nhà đầu tư: trước ngày 10/7/2026;

– Đối với cơ quan đăng ký đầu tư: trước ngày 15/7/2026;

– Đối với các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước: trước ngày 20/7/2026.

  1. Doanh nghiệp chậm nộp báo cáo giám sát đánh giá đầu tư có bị xử phạt không?

Căn cứ theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về mức xử phạt cho hành vi vi phạm về chế độ thông tin, báo cáo hoạt động đầu tư tại Việt Nam, nếu doanh nghiệp chậm thực hiện việc nộp báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư thì sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Đồng thời, doanh nghiệp còn phải thực các biện pháp khắc phục hậu quả là bổ sung các nội dung còn thiếu trong trường hợp báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư không đầy đủ nội dung; hoặc buộc thực hiện chế độ báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư định kỳ theo quy định đối với hành vi không thực hiện chế độ báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư định kỳ theo quy định theo khoản 3 Điều 15 Nghị định 122/2021/NĐ-CP.

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

WhatsApp chat