Trong quản trị nhân sự, việc huy động nhân viên làm việc ngoài giờ hành chính thường được xem là giải pháp tối ưu để đáp ứng kịp thời các đơn hàng gấp hoặc xử lý khối lượng công việc tồn đọng. Tuy nhiên, ranh giới giữa việc tối ưu hóa năng suất và vi phạm các chuẩn mực về thời giờ làm việc là rất mong manh. Chế định làm thêm giờ không chỉ đơn thuần là việc kéo dài thời gian làm việc để gia tăng thu nhập hay đảm bảo tiến độ dự án, mà còn là vấn đề pháp lý nhạy cảm liên quan trực tiếp đến sức khỏe và an toàn lao động. Việc thấu hiểu tường tận các giới hạn pháp lý này không chỉ giúp doanh nghiệp vận hành đúng luật, tránh các rủi ro tranh chấp không đáng có, mà còn bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động. Hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu những điểm trọng yếu trong quy định về làm thêm giờ hiện nay.

  1. Làm thêm giờ là gì?

Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động.

  1. Điều kiện sử dụng người lao động làm thêm giờ

Theo khoản 2 Điều 107 Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 59 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ, người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

– Phải được sự đồng ý của người lao động tham gia làm thêm về các nội dung: Thời gian làm thêm, địa điểm làm thêm và công việc làm thêm; ngoại trừ các trường hợp tại Điều 108 Bộ luật lao động 2019.

– Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

– Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 107 Bộ luật lao động 2019.

  1. Giới hạn số giờ làm thêm

Điều 60 Nghị định 145/2020/NĐ-CP giới hạn số giờ làm thêm cụ thể như sau:

(i) Tổng số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày làm việc bình thường, trừ trường hợp quy định tại khoản (ii), khoản (iii) dưới đây.

(ii) Trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày.

(iii) Trường hợp làm việc không trọn thời gian quy định tại Điều 32 của Bộ luật Lao động thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày.

(v) Tổng số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong một ngày, khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần.

(v) Thời giờ quy định tại các khoản 1 Điều 58 Nghị định 145/2020/NĐ-CP được giảm trừ khi tính tổng số giờ làm thêm trong tháng, trong năm để xác định việc tuân thủ quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019.

  1. Làm thêm giờ trong trường hợp đặc biệt

Như đã đề cập trước đó, người sử dụng lao động sử dụng người lao động làm thêm giờ phải được sự đồng ý của người lao động tham gia làm thêm. Tuy nhiên, các trường hợp sau đây tại Điều 108 Bộ luật lao động 2019 người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm và người lao động không được từ chối:

– Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật;

– Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

  1. Các trường hợp được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ/năm

Khoản 2 Điều 107 Bộ luật lao động 2019 đặt ra điều kiện rằng người sử dụng lao động phải bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ/năm. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 107 Bộ luật lao động 2019 cho phép người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ trong 01 năm trong một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây:

– Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;

– Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;

– Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;

– Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất.

Khi tổ chức làm thêm giờ theo quy định tại khoản 3 Điều 107, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Bên cạnh các trường hợp nêu trên, Điều 61 Nghị định 145/2020/NĐ-CP cũng có quy định thêm về các trường hợp được tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm:

– Các trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn phát sinh từ các yếu tố khách quan liên quan trực tiếp đến hoạt động công vụ trong các cơ quan, đơn vị nhà nước, trừ các trường hợp quy định tại Điều 108 của Bộ luật Lao động.

– Cung ứng dịch vụ công; dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; dịch vụ giáo dục, giáo dục nghề nghiệp.

– Công việc trực tiếp sản xuất, kinh doanh tại các doanh nghiệp thực hiện thời giờ làm việc bình thường không quá 44 giờ trong một tuần.

Khi tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, người sử dụng lao động phải thông báo cho Sở Nội vụ tại các nơi sau:

– Nơi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm;

– Nơi đặt trụ sở chính, nếu trụ sở chính đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác với nơi người sử dụng lao động tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

– Việc thông báo phải được thực hiện chậm nhất sau 15 ngày kể từ ngày thực hiện làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

– Trường hợp người sử dụng lao động đặt trụ sở chính hoặc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm trên địa bàn khu công nghệ cao thì phải thông báo cho Ban quản lý khu công nghệ cao về việc tổ chức làm thêm.

  1. Cách tính tiền lương làm thêm giờ

Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương làm thêm giờ được tính như sau:

(i) Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:

– Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

– Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

– Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

(ii) Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.

(iii) Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản (i) và khoản (ii) nêu trên, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

WhatsApp chat