Từ ngày 01/7/2026, việc giảm trừ các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc khi tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) được quy định trong Nghị định 253/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực. Vậy những đối tượng nào được áp dụng giảm trừ, các khoản chi nào được giảm trừ và mức giảm trừ cụ thể là bao nhiêu? Hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu ngay nhé!

1. Ai được giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN?

Căn cứ vào khoản 2 Điều 11 Luật thuế thu nhập cá nhân, đối tượng giảm trừ được quy định như sau:

“Giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác

Cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản sau đây:

…

  1. Khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế, người phụ thuộc của người nộp thuế được giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế theo mức do Chính phủ quy định.”

Như vậy, cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công được giảm trừ các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của chính mình và người phụ thuộc khi đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.

 

2. Những khoản chi y tế, giáo dục nào được giảm trừ và mức giảm trừ là bao nhiêu?

Căn cứ vào khoản 2 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP có quy định về giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác như sau:

“…2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:

  1. a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước thuộc phạm vi danh mục do bảo hiểm y tế chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
  2. b) Các khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo quy định của pháp luật về giáo dục – đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại cơ sở giáo dục – đào tạo.”

Như vậy, khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở y tế trong nước được giảm trừ tối đa 23 triệu đồng/năm; khoản chi cho giáo dục – đào tạo tại cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước được giảm trừ tối đa 24 triệu đồng/năm, với các khoản chi thuộc phạm vi được quy định nêu trên.

 

3. Người nộp thuế cần có những giấy tờ gì để được giảm trừ cho các khoản y tế, giáo dục?

Căn cứ vào khoản 3 Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, điều kiện để được giảm trừ như sau:

“a) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;

  1. b) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
  2. c) Không được chi trả từ các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước, quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.”

Như vậy, để được giảm trừ,người nộp thuế cần chuẩn bị đầy đủ hóa đơn, chứng từ theo những quy định trên, riêng với khoản chi cho y tế phải có thêm bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Đồng thời các chứng từ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc và các khoản chi không được chi trả từ các nguồn khác.

 

4. Có khoản chi y tế, giáo dục nào không được giảm trừ dù người lao động thực tế có phát sinh chi phí không?

Theo công văn 47199/HAN-QLDN5 của Cục thuế thành phố Hà Nội hướng dẫn thực hiện chính sách thuế về các khoản giảm trừ thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản chi cho y tế và giáo dục quy định các khoản giảm trừ như sau:

“4. Trường hợp áp dụng giảm thuế đối với các khoản chi cho y tế tại Điều 40 của Nghị định 253 hoặc phát sinh các khoản chi cho y tế, giáo dục – đào tạo tại các điểm b, g và i khoản 4 Điều 8 của Nghị định 253 thì các khoản chi này không tính vào các khoản giảm trừ quy định tại khoản 2 Điều này.”

Theo đó, một số khoản chi dù người lao động thực tế có phát sinh nhưng không tính vào khoản giảm trừ theo khoản 2 Điều 49, bao gồm các khoản sau:

  • Khoản hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh hiểm nghèo:

“b) Khoản tiền hỗ trợ của người sử dụng lao động cho việc khám bệnh, chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của người lao động bao gồm: con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng); cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi.

Mức hỗ trợ không tính vào thu nhập chịu thuế là số tiền người sử dụng lao động hỗ trợ thực tế theo hóa đơn, chứng từ nhưng tối đa không quá số tiền trả viện phí của người lao động và thân nhân người lao động sau khi đã trừ số tiền chi trả của tổ chức bảo hiểm (nếu có).

Việc xác định bệnh hiểm nghèo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;”

  • Khoản học phí do người sử dụng lao động trả thay trong một số trường hợp:

“g) Khoản tiền học phí cho con của người lao động nước ngoài học tại Việt Nam, con của người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại nước ngoài theo bậc học từ mầm non đến trung học phổ thông do người sử dụng lao động trả thay (hoặc thanh toán) cho người lao động;”

  • Khoản chi đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề do người sử dụng lao động trả thay:

“i) Khoản chi do người sử dụng lao động trả thay tiền đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động hoặc theo kế hoạch của người sử dụng lao động;”

 

  1. Khi nào người nộp thuế phải tự quyết toán thuế để được giảm trừ?

Căn cứ khoản 3 Điều 51 Nghị định 253/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân quy định về quyết toán thuế:

“3. Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị giảm thuế do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo quy định tại Điều 40 của Nghị định này hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại Điều 49 của Nghị định này mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế.”

Như vậy, trường hợp cá nhân có phát sinh khoản giảm trừ theo Điều 49 và có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì cá nhân phải tự quyết toán thuế.

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

WhatsApp chat