Báo cáo nhanh tình hình khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc cho người lao động như thế nào theo công văn 3843? Hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu thêm nhé!

Báo cáo nhanh tình hình khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc cho người lao động như thế nào theo Công văn 3843?
Công văn 3843/SNV-LĐVL năm 2026 của Sở Nội vụ Thành phố Hải Phòng hướng dẫn về việc tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc cho người lao động và báo cáo nhanh tình hình khám sức khỏe.
Trong đó, hướng dẫn Báo cáo nhanh tình hình khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc cho người lao động như sau:
– Cử đầu mối chịu trách nhiệm tổng hợp, báo cáo chính xác số liệu đối tượng thuộc phạm vi quản lý đã được khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc từ ngày 01/01/2026 đến thời điểm báo cáo; số người được lập Sổ sức khỏe điện tử; cơ sở khám sức khỏe đủ điều kiện thực hiện khám; nhu cầu khám dự kiến năm 2027 và các thông tin liên quan khi có biến động về số liệu.
– Hình thức báo cáo: Cập nhật trực tuyến qua biểu mẫu của Sở Nội vụ tại đường liên kết:
Công ty bắt buộc phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động đúng không?
Căn cứ Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động như sau:
Khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động
- Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần.
- Khi khám sức khỏe theo quy định tại khoản 1 Điều này, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
- Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng y khoa khám giám định mức suy giảm khả năng lao động
Theo đó, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất 1 lần cho người lao động.
Đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng/lần.
Như vậy, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động.
Khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc cho người lao động khi thuộc trường hợp nào?
Theo Điều 3 Thông tư 56/2025/TT-BYT quy định đối tượng khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc như sau:
Đối tượng khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc
Đối tượng khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc là người lao động thuộc trường hơp quy định tại khoản 3 Điều 21 của Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13.
Theo đó, đối tượng khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc là người lao động thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, cụ thể:
Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc; sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng y khoa khám giám định mức suy giảm khả năng lao động.
Bên cạnh đó, nội dung khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc theo Điều 5 Thông tư 56/2025/TT-BYT quy định:
(1) Khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc thực hiện theo đúng nội dung của Phiếu khám sức khỏe trước khi bố trí làm việc theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư 56/2025/TT-BYT.
Trường hợp người lao động đã được khám sức khỏe định kỳ, cấp giấy khám sức khỏe và còn thời hạn sử dụng theo quy định tại Thông tư số 32/2023/TT-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh thì thực hiện khám chuyên khoa theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư 56/2025/TT-BYT.
(2) Tùy theo vị trí làm việc của người lao động, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh nghề nghiệp chỉ định khám chuyên khoa phù hợp với các yếu tố có hại tại vị trí làm việc.
(3) Thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng (xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng) khi có chỉ định của người hành nghề để phù hợp với các yếu tố có hại tại vị trí làm việc.



EN