Trong thực tiễn kinh doanh, việc nhờ người khác đứng tên hộ khi góp vốn thành lập doanh nghiệp hay góp vốn diễn ra khá phổ biến, cũng là một vấn đề nhức nhối tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nhằm chấn chỉnh triệt để tình trạng trên và minh bạch hóa môi trường đầu tư, Chính phủ đã ban hành Nghị định 168/2025/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 296/2026/NĐ-CP), mang đến những thay đổi bước ngoặt, tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia góp vốn vào doanh nghiệp. Vậy từ ngày 23/7/2026, tổ chức, cá nhân có còn được đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh nghiệp không? Để đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật và phòng tránh các rủi ro pháp lý không đáng có, hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu chi tiết những quy định mới nhất qua bài viết dưới đây.

  1. Từ ngày 23/7/2026, tổ chức, cá nhân có được đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh nghiệp không?

Trong thực tiễn trước đây, việc nhờ người đứng tên hộ khi thành lập doanh nghiệp hay góp vốn vào doanh nghiệp diễn ra khá phổ biến. Tuy nhiên, hành vi này tiềm ẩn vô số rủi ro về tranh chấp nội bộ và tạo kẽ hở cho các hoạt động gian lận, trốn tránh trách nhiệm pháp lý.

Để nâng cao tính minh bạch của môi trường kinh doanh, theo khoản 1 Điều 4 Nghị định 168/2025/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 296/2026/NĐ-CP), quy định cụ thể:

Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp tự kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo.

Chủ sở hữu, cổ đông, thành viên của công ty thực hiện đầy đủ quy định về tài sản góp vốn tại khoản 2 Điều 34 Luật Doanh nghiệp, không đứng tên thay người khác để góp vốn vào doanh nghiệp.

Như vậy, từ ngày 23/7/2026, pháp luật chính thức nghiêm cấm tổ chức, cá nhân có hành vi đứng tên thay người khác để góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào doanh nghiệp. Điều này đồng nghĩa với việc cá nhân, tổ chức có tên trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Sổ đăng ký cổ đông hoặc Sổ đăng ký thành viên bắt buộc phải là người thực tế góp vốn vào doanh nghiệp và sở hữu phần vốn góp đó.

  1. Quyền thành lập doanh nghiệp và nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp

Theo Điều 5 Nghị định 168/2025/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 296/2026/NĐ-CP), đối với vấn đề đăng ký thành lập doanh nghiệp, pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ cho cả người thành lập doanh nghiệp lẫn cơ quan có thẩm quyền như sau:

– Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ.

– Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp.

– Nghiêm cấm Cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan khác gây phiền hà đối với tổ chức, cá nhân trong khi tiếp nhận hồ sơ và giải quyết thủ tục đăng ký doanh nghiệp.

Pháp luật luôn tôn trọng và khuyến khích quyền tự do kinh doanh của mọi cá nhân, tổ chức trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, song song với quyền lợi này, người thành lập doanh nghiệp phải tuân thủ các nghĩa vụ nghiêm ngặt về đăng ký doanh nghiệp nhằm bảo đảm trật tự quản lý nhà nước.

  1. Ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp

Nhằm tiết kiệm thời gian và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân, pháp luật cho phép người thành lập doanh nghiệp được quyền ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, người ủy quyền và người được ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, trung thực và chính xác của việc ủy quyền.

Theo Điều 12 Nghị định 168/2025/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 296/2026/NĐ-CP), Người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo quy định sau đây:

– Trường hợp ủy quyền cho cá nhân: Kèm theo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có văn bản ủy quyền cho cá nhân thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp. Văn bản ủy quyền này không bắt buộc phải công chứng, chứng thực.

– Trường hợp ủy quyền cho tổ chức: Kèm theo hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có bản sao hợp đồng ủy quyền cho tổ chức thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp, giấy giới thiệu/văn bản phân công nhiệm vụ của tổ chức đó cho cá nhân trực tiếp thực hiện thủ tục liên quan đến đăng ký doanh nghiệp.

– Trường hợp ủy quyền cho đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính công ích: Khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, nhân viên bưu chính phải nộp bản sao phiếu gửi hồ sơ theo mẫu do doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính công ích phát hành có chữ ký xác nhận của nhân viên bưu chính và người có thẩm quyền ký văn bản đề nghị đăng ký doanh nghiệp.

– Trường hợp ủy quyền cho đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính không phải là bưu chính công ích: thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.

Lưu ý: Người ủy quyền và người được ủy quyền phải xác thực điện tử để được cấp đăng ký doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.

Trường hợp việc xác thực điện tử bị gián đoạn thì người ủy quyền thực hiện việc xác thực điện tử sau khi được cấp đăng ký doanh nghiệp.

Trường hợp người ủy quyền không xác nhận/xác nhận không ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về việc tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 216 Luật Doanh nghiệp 2020.

Trường hợp chưa có tài khoản định danh điện tử để thực hiện xác thực điện tử thì hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải kèm theo bản sao thẻ căn cước hoặc thẻ Căn cước công dân hoặc hộ chiếu hoặc hộ chiếu nước ngoài hoặc các giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu nước ngoài còn hiệu lực của người ủy quyền.

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

WhatsApp chat