Thu nhập được miễn thuế là một trong những nội dung trọng tâm của chính sách thuế nhằm giảm gánh nặng tài chính, khuyến khích và bảo vệ người nộp thuế trong những hoàn cảnh lao động đặc thù. Theo quy định tại Luật Thuế TNCN 2025, danh mục các khoản thu nhập được miễn thuế đã được điều chỉnh, bổ sung để đồng bộ với Bộ luật Lao động 2019 và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội. Để đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật và tối ưu hóa quyền lợi, người lao động cũng như người sử dụng lao động cần nắm rõ các quy định về điều kiện và phạm vi áp dụng của một số loại thu nhập được miễn thuế TNCN. Hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu những quy định pháp luật quan trọng liên quan đến việc miễn thuế TNCN đối với tiền lương làm thêm giờ, làm đêm và tiền lương trả cho những ngày không nghỉ phép.

- Quy định về miễn thuế đối với tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ
Theo khoản 8 Điều 4 Luật Thuế TNCN 2025, tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ theo quy định của pháp luật thuộc nhóm thu nhập được miễn thuế.
Theo hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ, toàn bộ khoản tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được do làm việc ban đêm, làm thêm giờ sẽ được miễn thuế TNCN hoàn toàn. Thay vì cơ chế cũ là chỉ miễn thuế cho phần chênh lệch cao hơn so với mức lương làm việc ban ngày, giờ hành chính, quy định mới xác định toàn bộ khoản thu nhập phát sinh trong khung giờ làm thêm/làm ban đêm là thu nhập không chịu thuế.
Lưu ý: Theo khoản 3 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, trường hợp tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Theo khoản 1 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, để được áp dụng cơ chế miễn thuế TNCN này, doanh nghiệp phải chứng minh được những điều kiện sau đây:
– Việc huy động làm việc ban đêm, làm thêm giờ của doanh nghiệp phải tuân thủ đúng giới hạn thời gian theo quy định pháp luật lao động (không quá số giờ tối đa trong ngày/tháng/năm) và có sự đồng ý của người lao động.
– Doanh nghiệp phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc, khoản tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại tổ chức, doanh nghiệp trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.
Lưu ý: Trường hợp không lập bảng kê riêng, doanh nghiệp có trách nhiệm chứng minh khoản tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ tại nơi làm việc thông qua bảng lương, bảng chấm công, hợp đồng lao động và các tài liệu hợp pháp khác.
Làm thêm giờ và làm việc ban đêm là những hoạt động đòi hỏi người lao động phải hao tổn nhiều sức khỏe, thời gian nghỉ ngơi hơn so với chế độ làm việc tiêu chuẩn. Việc Nhà nước ghi nhận và bù đắp thông qua các chế độ ưu đãi thuế đối với phần thu nhập này là một điểm sáng trong chính sách pháp luật hiện hành.
- Quy định miễn thuế đối với tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép
Từ ngày 01/7/2026, việc áp dụng chính sách miễn thuế TNCN đối với khoản tiền lương thanh toán cho những ngày chưa nghỉ phép được quy định cụ thể nhằm bảo vệ trọn vẹn thành quả lao động và quyền lợi chính đáng của người lao động.
Theo khoản 8 Điều 4 Luật Thuế TNCN 2025, tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép theo quy định của pháp luật là loại thu nhập được miễn thuế. Cụ thể, thu nhập này bao gồm tiền lương được doanh nghiệp chi trả cho những ngày chưa nghỉ trong trường hợp người lao động do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm theo khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019.
Lưu ý: Theo khoản 3 Điều 26 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, trường hợp tiền lương, tiền công trả cho những ngày không nghỉ phép vượt mức quy định của pháp luật thì phần vượt mức quy định tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Chế độ nghỉ hằng năm là quyền lợi cơ bản nhằm tái tạo sức lao động của người lao động. Tuy nhiên, vì những lý do khách quan như thôi việc, mất việc làm hoặc do yêu cầu công việc mà người lao động chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày phép thì pháp luật quy định người lao động vẫn được doanh nghiệp chi trả phần tiền lương, tiền công cho những ngày chưa nghỉ đó. Quy định này mang ý nghĩa hỗ trợ trực tiếp thu nhập cho người lao động trong giai đoạn chuyển tiếp công việc.
- Cách xác định tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ
Theo khoản 1 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau:
– Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;
– Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;
– Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
Trong trường hợp người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường. Ngoài ra, nếu người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo các quy định nêu trên, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết.



EN