Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với các thương nhân nước ngoài có nhu cầu mở rộng hoạt động kinh doanh và tìm kiếm cơ hội đầu tư. Bên cạnh việc thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, việc thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam cũng là một hình thức hiện diện thương mại được pháp luật Việt Nam cho phép đối với một số lĩnh vực nhất định. Tuy nhiên, để chi nhánh hoạt động đúng quy định và hạn chế các rủi ro pháp lý phát sinh, thương nhân nước ngoài cần nắm rõ các quy định về điều kiện thành lập, phạm vi hoạt động, quyền, nghĩa vụ cũng như các yêu cầu về quản lý trong suốt quá trình hoạt động. Hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu những quy định pháp luật quan trọng liên quan đến hoạt động của chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam.

I. Quyền và nghĩa vụ của chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là “Chi nhánh”) là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập và hoạt động thương mại tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh của mình tại Việt Nam.

  1. Quyền của Chi nhánh

Theo Điều 19 Luật Thương mại 2005, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam sẽ có các quyền sau:

– Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Chi nhánh.

– Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

– Giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động được quy định trong giấy phép thành lập Chi nhánh và theo quy định của Luật này.

– Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam.

– Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

– Có con dấu mang tên Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

– Thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại khác phù hợp với giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

– Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

  1. Nghĩa vụ của Chi nhánh

Điều 20 Luật Thương mại 2005 quy định Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có các nghĩa vụ sau:

– Thực hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật Việt Nam; trường hợp cần áp dụng chế độ kế toán thông dụng khác thì phải được Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chấp thuận.

– Báo cáo hoạt động của Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

– Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

II. Hoạt động của Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

  1. Bộ máy quản lý của Chi nhánh

Theo Điều 27 Nghị định 07/2016/NĐ-CP, bộ máy quản lý và nhân sự của Chi nhánh do thương nhân nước ngoài quyết định.

Việc sử dụng người lao động nước ngoài làm việc tại Chi nhánh phải thực hiện theo quy định pháp luật về lao động và phù hợp với cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

  1. Nội dung hoạt động của Chi nhánh

Chi nhánh hoạt động cung ứng dịch vụ trong các ngành dịch vụ, không bao gồm ngành dịch vụ mà việc thành lập Chi nhánh trong lĩnh vực đó được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành.

Trường hợp Chi nhánh hoạt động trong các ngành, nghề mà pháp luật quy định phải có điều kiện thì Chi nhánh chỉ được hoạt động khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.

  1. Chế độ báo cáo hoạt động của Chi nhánh

Trước ngày 30 tháng 01 hàng năm, Chi nhánh có trách nhiệm gửi báo cáo theo mẫu của Bộ Công Thương về hoạt động của mình trong năm trước đó qua đường bưu điện tới Cơ quan cấp Giấy phép.

Chi nhánh có nghĩa vụ báo cáo, cung cấp tài liệu hoặc giải trình những vấn đề có liên quan đến hoạt động của mình theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

III. Quy định về người đứng đầu Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

Theo Điều 33 Nghị định 07/2016/NĐ-CP, Người đứng đầu Chi nhánh phải chịu trách nhiệm trước thương nhân nước ngoài về hoạt động của mình và của Chi nhánh trong phạm vi được thương nhân nước ngoài ủy quyền.

Người đứng đầu Chi nhánh phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình trong trường hợp thực hiện các hoạt động ngoài phạm vi được thương nhân nước ngoài ủy quyền.

Người đứng đầu Chi nhánh phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu Chi nhánh theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Việc ủy quyền này phải được sự đồng ý của thương nhân nước ngoài. Người đứng đầu Chi nhánh vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

Trường hợp hết thời hạn ủy quyền mà người đứng đầu Chi nhánh chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì người được ủy quyền có quyền tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu Chi nhánh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đứng đầu Chi nhánh trở lại làm việc tại Chi nhánh hoặc cho đến khi thương nhân nước ngoài bổ nhiệm người khác làm người đứng đầu Chi nhánh.

Trường hợp người đứng đầu Chi nhánh không hiện diện tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu Chi nhánh hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế mất năng lực hành vi dân sự thì thương nhân nước ngoài phải bổ nhiệm người khác làm người đứng đầu Chi nhánh.

Người đứng đầu Chi nhánh của thương nhân nước ngoài không được kiêm nhiệm các chức vụ sau:

– Người đứng đầu Văn phòng đại diện của một thương nhân nước ngoài khác;

– Người đứng đầu Văn phòng đại diện của cùng một thương nhân nước ngoài;

– Người đại diện theo pháp luật của tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam.

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

WhatsApp chat