Khi thâm nhập thị trường Việt Nam, nhiều thương nhân nước ngoài lựa chọn mô hình Văn phòng đại diện như một “cánh tay nối dài” để khảo sát thị trường và xây dựng mối quan hệ với đối tác địa phương. Tuy nhiên, một trong những vướng mắc lớn nhất mà các nhà đầu tư thường gặp phải chính là xác định giới hạn các hoạt động mà văn phòng này được phép triển khai, đặc biệt là trong lĩnh vực xúc tiến thương mại. Mặc dù Luật Thương mại đã quy định Văn phòng đại diện có chức năng thúc đẩy cơ hội kinh doanh, nhưng liệu họ có được trực tiếp tổ chức các chương trình khuyến mại, trưng bày hàng hóa hay ký kết hợp đồng quảng cáo hay không lại là một câu chuyện pháp lý phức tạp. Việc hiểu sai quyền hạn không chỉ khiến thương nhân gặp khó khăn trong quá trình vận hành mà còn tiềm ẩn nguy cơ bị xử phạt do hoạt động quá phạm vi cho phép. Để có một cái nhìn tổng quan về các quy định về thẩm quyền xúc tiến thương mại của mô hình này, hãy cùng Phạm Consult tìm hiểu các quy định pháp luật hiện hành.

I. Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại hay không?
Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép. Theo quy định tại Điều 16 Luật Thương mại năm 2005 và Điều 3 Nghị định số 07/2016/NĐ-CP, thương nhân nước ngoài được đặt Văn phòng đại diện của mình tại Việt Nam theo cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về toàn bộ hoạt động của Văn phòng đại diện của mình tại Việt Nam.
Theo Điều 30 Nghị định 07/2016/NĐ-CP, văn phòng đại diện thực hiện chức năng văn phòng liên lạc, tìm hiểu thị trường, xúc tiến thúc đẩy cơ hội đầu tư kinh doanh của thương nhân mà mình đại diện, không bao gồm ngành dịch vụ mà việc thành lập Văn phòng đại diện trong lĩnh vực đó được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. Bên cạnh đó, Điều 18 Luật Thương mại 2005 quy định nghĩa vụ của văn phòng đại diện như sau:
– Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam.
– Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi mà Luật Thương mại cho phép.
– Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng Văn phòng đại diện có giấy uỷ quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 17 của Luật Thương mại.
– Nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.
– Báo cáo hoạt động của Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
– Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Kết hợp các quy định trên, ta có thể thấy rằng văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có thể thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm thúc đẩy cơ hội đầu tư kinh doanh của thương nhân mà mình đại diện. Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động xúc tiến thương mại đều có thể được thực hiện mà chỉ những hoạt động nào mà Luật Thương mại cho phép thì văn phòng đại diện mới được phép thực hiện.
II. Các hoạt động xúc tiến thương mại mà Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện
Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại. Các hoạt động xúc tiến thương mại được quy định chi tiết tại Chương IV Luật Thương mại 2005. Nhìn chung, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam không được tự mình trực tiếp thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại. Trong trường hợp được thương nhân mà mình đại diện ủy quyền thì văn phòng đại diện được quyền ký hợp đồng với thương nhân cung cấp các dịch vụ xúc tiến thương mại để thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại.
- Khuyến mại
Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định, bao gồm các hình thức khuyến mại được quy định tại Điều 92 Luật Thương mại 2005.
Theo quy định tại Điều 91 Luật Thương mại 2005, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện khuyến mại dưới bất kì hình thức nào, đồng thời không được phép thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện. Điều này có nghĩa văn phòng đại diện không được quyền thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại dưới dạng khuyến mại, bao gồm cả việc thuê hoặc ủy quyền cho bất kỳ bên thứ ba nào thực hiện các hoạt động khuyến mại tại Việt Nam.
- Quảng cáo thương mại
Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của mình.
Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp thực hiện hoạt động quảng cáo thương mại. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thương mại để thực hiện quảng cáo cho thương nhân mà mình đại diện.
- Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ
Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân dùng hàng hoá, dịch vụ và tài liệu về hàng hoá, dịch vụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ đó.
Theo Điều 118 Luật Thương mại 2005, Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của thương nhân do mình đại diện, trừ việc trưng bày, giới thiệu tại trụ sở của Văn phòng đại diện đó. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ để thực hiện trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân mà mình đại diện.
- Hội chợ, triển lãm thương mại
Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ.
Theo Điều 131 Luật Thương mại 2005, Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại. Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại để tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại cho thương nhân mà mình đại diện.



EN